Tin hoạt động của công ty
Tổng quan về hội chứng tử vong sớm trên tôm (EMS)
0
5778
: 05/07/2013
Tình hình dịch bệnh
 
 
Tôm bị nhiễm EMS
 
Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là nơi sản xuất các sản phẩm nuôi trồng thủy sản lớn nhất trên thế giới đang liên tục bị bao vây bởi các vấn đề mới nổi lên của bệnh động vật thủy sản mà có thể gây ra tỉ lệ chết và thiệt hại kinh tế lớn ở cả nông dân nuôi quy mô nhỏ cũng như các nhà sản xuất thương phẩm. Hơn hai thập kỷ qua, các loại bệnh như hội chứng đốm trắng, đầu vàng và hội chứng Taura đã ảnh hưởng nặng nề đến ngành nuôi tôm trong khu vực và làm sụp đổ nghề nuôi tôm sú.
 
 
Gần đây, một loại bệnh mới nổi lên được gọi là hội chứng chết sớm (EMS) – theo thuật ngữ gọi là hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) – đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho nông dân nuôi tôm ở Trung Quốc, Việt Nam và Malaysia. Theo báo cáo bệnh đã tác động đến tôm ở phía đông Vịnh Thái Lan vào năm 2012 (Flegel, 2012).
 
EMS tác động đến cả tôm sú P. monodon và tôm thẻ L. vannamei và có đặc điểm là chết hàng loạt trong giai đoạn nuôi 20 – 40 ngày đầu tiên. Các dấu hiệu lâm sàng của bệnh là mức tăng trưởng chậm, bơi hình xoắn ốc, vỏ xốp và màu xanh xám. Tôm bị nhiễm bệnh luôn nhìn thấy gan tụy bị teo tóp, nhỏ, sưng phồng bất thường hoặc gan tụy bị đổi màu.
 
·        Ở Trung Quốc, bệnh EMS xảy ra vào năm 2009, ban đầu hầu hết nông dân đã phớt lờ. Nhưng năm 2011, sự bùng phát bệnh đã trở thành nghiêm trọng, đặc biệt ở các trang trại với lịch sử nuôi hơn 5 năm và ở khu vực gần biển sử dụng nguồn nước mặn. Người nuôi tôm ở Hải Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến và Quảng Tây đã bị thiệt hại hơn 80% trong nửa đầu năm 2011 (Panakorn, 2012).
 
·        Ở Việt Nam, bệnh đã được theo dõi kể từ năm 2010, nhưng sự tàn phá lan rộng nhất do bệnh EMS được báo cáo kể từ tháng 3 năm 2011 ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Nam Bộ. Bệnh EMS tác động đến các khu vực sản xuất tôm chủ lực thuộc các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau với tổng diện tích ao nuôi tôm khoảng 98.000ha.
 
·        Vào tháng 6 năm 2011, đã có báo cáo về thiệt hại chưa từng thấy 11.000 ha tôm sú ở Bạc Liêu. Khoảng 330 triệu tôm chết ở Trà Vinh và 20.000 ha ở Sóc Trăng đã bị thiệt hại rất lớn trong năm 2012 (Mooney, 2012).
 
·        Ở Malaysia, bệnh EMS đã được báo cáo đầu tiên vào giữa năm 2010 ở các bang bờ đông: Pahang và Johor. Dịch bệnh EMS bùng phát dẫn đến sự sụt giảm sản lượng tôm thẻ L. vannamei từ 70.000 MT vào năm 2010 xuống còn 40.000 MT vào năm 2011. Dự báo sản lượng thấp vào năm 2012 với các báo cáo không xác định về bệnh EMS ở các bang Sabah và Sarawak.
 
·        Cho đến nay, không có nguyên nhân gây bệnh khả thi nào được xác minh đối với bệnh EMS. Các nguyên nhân gây bệnh có thể là các chất độc sinh học hoặc phi sinh học, vi khuẩn và virus. Tuy nhiên, sự lan truyền và tác động tàn phá của bệnh trên ngành nghề nuôi tôm ở các nước bị ảnh hưởng chỉ rõ cần kế hoạch đối phó ở các nước khác trong khu vực, đặc biệt với các vùng đang nuôi tôm thẻ L. vannamei.
 
Các triệu chứng lâm sàn
 
 
Gan tụy tôm nhiễm EMS
Giai đoạn đầu các triệu chứng bệnh thường không rõ ràng nhưng làm cho tôm chậm lớn và chết ở đáy ao, giai đoạn tiếp theo tôm bệnh có hiện tượng vỏ mềm và biến màu.
 
·        Tôm bị bệnh thường lờ đờ, nơi tấp mé, quay đảo trên mặt nước, giảm ăn và chết sau đó. Tôm có thể chết rất nhanh sau khi phát hiện bệnh 2-3 ngày. Nhiều trường hợp ghi nhận tôm ngưng chết khi ngưng cho ăn và sau đó chết rất nhanh khi cho ăn trở lại.
 
·        Gan tôm bệnh thường gặp có nhiều trạng thái khác nhau như: sưng to, mềm nhũn, biến màu, nhiều trường hợp gan bị teo nhỏ và dai.
 
·        Giải phẩu mô học thường phát hiện có nhiều đốm đen trên gan và kết quả phân tích tiêu bản mẫu gan tụy cho thấy tế bào gan bị hoại tử, lượng chất béo dự trữ trong gan hầu như không còn và trong nhiều trường hợp mẫu gan tụy bị nhiễm vi khuẩn ở các mức độ khác nhau.     
 
Giải phẩu mô học gan tụy tôm nhiễm EMS
Cả 2 loại tôm sú P. monodon và tôm thẻ L. vannamei bị bệnh EMS đều thể hiện bệnh lý giống nhau. Các mẫu tôm dành phân tích mô học đều cho thấy các tác động của bệnh EMS chỉ giới hạn ở gan tụy (H.P.).  Hoạt động khác thường tiến triển ở gan tụy đã cho kết quả các tổn thương thể hiện sự suy thoái và sự bất bình thường của các tế bào biểu mô ống phát sinh ở gần đầu đến ngoại biên.
 
·        Sự thay đổi đầu tiên quan sát được ở gan tụy của tôm bệnh là giảm rõ rệt túi tế bào dự trữ mỡ và mất giọt mỡ, cũng như giảm hoạt động của các tế bào bài tiết. Khi bệnh tiến triển, các tế bào mỡ, các tế bào basophyl và bài tiết bị suy thoái và bắt đầu tạo thành vòng tròn, tách khỏi màng nền ống gan tụy và kết vào phần trong ống gan tụy.
 
·        Kèm theo sự suy thoái của các tế bào này nhiều ở khu vực gần ống gan tụy, số lượng các tế bào E hoạt động trong quá trình nguyên phân giảm và phản ứng viêm nhiễm rõ rệt bị chi phối bởi sự thâm nhiễm huyết tương và bọc gói ống gan tụy nhiễm bệnh.
 
·        Khi các tế bào biểu mô ống suy thoái, các nhân của chúng biến đổi trương phình, các nhân hầu hết đều to lên. Ở giai đoạn cuối của bệnh, dạng viêm nhiễm phát sinh nghiêm trọng có thể gây ra bởi vi khuẩn cơ hội Vibrio xảy ra ở khối tế bào biểu mô bị kết dính ở trong ống gan tụy. Tôm bệnh chết do suy thoái gan tụy và nhiễm Vibrio giai đoạn cuối.
 
Nguyên nhân dịch bệnh
 
Nguyên nhân bệnh thoái hóa gan tụy giả thuyết phần lớn cho được cho là bị nhiễm độc. Các tổn thương tương tự đã được báo cáo về gan tụy của tôm phơi nhiễm độc tố aflatoxin B1 (độc tố sản sinh do các loài nấm Aspergillus) và chất benomyl (chất diệt nấm) ức chế nguyên phân đã chứng minh thêm cho lý luận này.
 
Các nghiên cứu để xác định nguyên nhân gây ra bệnh EMS được tiến hành tại Đai học Arizona, phòng thí nghiệm Bệnh học Thủy sản vẫn chưa thành công. Phòng thí nghiệm đã xét nghiệm thức ăn thương phẩm lấy ở các trang trại tôm nhiễm bệnh EMS và các mẫu tôm đông lạnh bị bệnh EMS từ các trang trại nhiễm bệnh đã được sử dụng để nghiên cứu tính lây nhiễm. Chất diệt giáp xác thường sử dụng trước khi thả giống trong khu vực nuôi để diệt các sinh vật gây hội chứng đốm trắng cũng đã được xét nghiệm. Cho đến nay, Phòng Thí nghiệm Đại học Arizona chưa thể gây bệnh thực nghiệm gan tụy phù hợp với các tổn thương đã quan sát trên tôm nhiễm bệnh EMS.
 
Từ tháng 6-9/2011, Viện nghiên cứu thủy sản 2 đã chủ trì thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các biện pháp khẩn cấp chống dịch bệnh trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng nuôi ở ĐBSCL” đã khẳng định Cypermethin (thuốc diệt giáp xác thuộc nhóm perythroid) là một trong những nguyên nhân gây ra hội chứng hoại tử gan tụy (Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, 2011).
 
Mặc dù Cypermenthrin đã được xem là nguyên nhân gây hoại tử gan tụy khiến tôm chết hàng loạt ở những vùng nuôi tôm trong nước nhưng vẫn còn nhiều nguyên nhân khác cần được làm rõ vì EMS cũng đã xảy ra ở những nơi mà Cypermenthrin bị cấm từ lâu (như Thái Lan).
 
Thấu hiểu được những nỗi bâng khuâng lo lắng của bà con nuôi trồng thủy sản, công ty Sitto Việt Nam đã không ngừng nghiên cứu xác định nguyên nhân và để tìm ra giải pháp phòng trị EMS. Tại tập đoàn Sitto Group Thái Lan đã tìm ra nguyên nhân hội chứng hoại tử gan tụy EMS là do một loại ký sinh trung mới gây ra, Nhóm ký sinh trùng Microsporidian (Enterocytozoon hepatopenaei).
 
Phương pháp phòng và điều trị EMS
 
Dựa trên việc xác định chính xác nguyên nhân gây nên hội chứng hoại tử gan tụy EMS tập đoàn Sitto Group đã nghiên cứu thành công chế phẩm phòng trị EMS chính là chế phẩm VIVAX. Qua kiểm định và thử nghiệm chất lượng diệt khuẩn trên nhiều mô hình ao nuôi VIVAX chứng minh được hiệu quả trừ ký sinh trùng của mình. Trên những thành công đó, VIVAX được đưa vào sản xuất và trở thành phương thuốc đầu tiên cứu các ao tôm nhiễm EMS ở Thái Lan.
 
Tại Việt Nam, VIVAX cũng đã được đưa vào thử nghiệm từ tháng 1/2013 với kết quả vô cùng khả quan. Cụ thể, công ty Sitto Việt Nam đã thực hiện 23 mô hình thử nghiệm thành công ở Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Nha Trang, Cà Mau, Bạc Liêu,…
 
 
© Copyright 2013 . All rights reserved
Design by Vitda.
CÔNG TY TNHH SITTO VIỆT NAM
Số 4 đường 3A, KCN Biên Hòa 2, Đồng Nai.
Điện thoại: (84-8) 6 2960736 - 6 2960737
Hotline: 08 22297399