Kiến thức nuôi Tôm
TẦM QUAN TRỌNG CỦA SINH VẬT PHÙ DU TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN PHẦN 1
0
6292
: 15/09/2016
1. Giới thiệu

Các động vật thủy sản phải duy trì tất cả các nhu cầu dinh dưỡng thông qua thức ăn mà chúng tiêu thụ. Trong tự nhiên, hầu hết các động vật thủy sản sử dụng thức ăn tự nhiên bao gồm cả động vật và thực vật hiện diện trong môi trường sống và phân lớn đó là thực vật phù du (phytoplankton), đặc biệt là ở giai đoạn ấu trùng. Sau một khoảng thời gian nhất định, ấu trùng có thể ăn kết hợp với động vật phù du hoặc kết hợp cả thức ăn có nguồn gốc từ động vật và thực vật gọi là sinh vật phù du. Thuật ngữ “sinh vật phù du” được định nghĩa là các sinh vật có kích thước rất nhỏ nằm trôi nổi trong nước nói chung. Sinh vật phù du có nguồn gốc từ thực vật được gọi là thực vật phù du (phytoplankton) và chúng được xem là nhà máy sản xuất đầu tiên trong môi trường nước. Trong khi đó, các sinh vật phù du có thành phần từ động vật được gọi là động vật phù du, được xem là nơi tiêu thụ đầu tiên.

2. Thực vật phù du

Hiện nay, các nhà nuôi trồng thủy sản quan tâm nhiều đến màu nước ao nuôi. Họ đề cao tầm quan trọng của thực vật phù du trong nguồn nước ao nuôi.

2.1. Mục tiêu của các thực vật phù du trong nước ao nuôi

a. Tăng cường oxy hòa tan và làm giảm các khí độc

Một quần thể thực vật nguyên sinh phù hợp với ao nuôi sẽ cung cấp một lượng oxy đáng kể cho hệ thống thông qua quá trình quang hợp vào thời điểm ban ngày đồng thời làm giảm hàm lượng CO2, NH3, NO2, H2S, CH4… Sự nở hoa của thực vật nguyên sinh có thể làm giảm các chất độc vì thực vật nguyên sinh có thể tiêu thụ N-NH3 và liên kết với kim loại nặng.

b. Ổn định chất lượng nước và làm giảm hàm lượng các hợp chất gây độc.

c. Tăng cường và làm ổn định nhiệt độ nước ao nuôi.

Sự phân bố của thực vật nguyên sinh trong hệ thống ao nuôi làm giảm tình trạng mất nhiệt vào mùa đông và ổn định nhiệt độ nước ao.

d. Cung cấp bóng râm và giảm hiện tượng ăn nhau.

Thực vật nguyên sinh có thể ngăn chặn sự phát triển của nấm sợi vì thực vật nguyên sinh có thể hạn chế ánh sáng chiếu xuống đáy ao. Thực vật nguyên sinh nở hoa khỏe mạnh cũng có thể cung cấp độ đục thích hợp và từ đó ổn định sức khỏe tôm và giảm thiểu tình trạng ăn nhau.

e. Nguồn thức ăn tự nhiên và ức chế sự phát triển của các quẩn thể vi khuẩn gây bệnh và thông qua cạnh tranh nguồn dinh dưỡng trong nước.

Thực vật nguyên sinh cũng cạnh tranh nguồn dinh dưỡng với các vi khuẩn và làm giảm quần thể vi khuẩn gây bệnh đồng thời làm tăng nguồn thức ăn tự nhiên. Việc duy trì màu nước ổn định đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý chất lượng nước. Màu nước ao nuôi thường được chỉ thị bởi các loài thực vật nguyên sinh chiếm ưu thế.

Vì thế thực vật phù du đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc ổn định hệ thống nước ao nuôi và hạn chế tối đa sự thay đổi bất thường của chất lượng nước.

2.2. Sự biến đổi của thực vật nguyên sinh

Sự thay đổi màu nước hay cường độ màu nước chỉ thị cho sự thay đổi mật độ của thực vật nguyên sinh. Thỉnh thoảng màu nước thay đổi đột ngột là do sinh khối thực vật nguyên sinh bị chết. Nguyên nhân là do thực vật nguyên sinh đến chu kỳ sinh sản hoặc các yếu tố lý hóa trong nước thay đổi đột ngột như thay đổi nhiệt độ nước, độ mặn hoặc thiếu dinh dưỡng hoặc do bị động vật nguyên sinh ăn với số lượng lớn. Thực vật nguyên sinh cũng có thể phát triển nhanh trong những ngày nắng ấm ở những ao nuôi mật độ cao với hàm lượng dinh dưỡng cao.

Khi sinh khối của thực vật nguyên sinh chết trong những ngày nắng ấm có thể gây nguy hiểm cho tôm và cá. Nhiệt độ cao, tế bào thực vật nguyên sinh phân hủy nhanh hơn à làm giảm hàm lượng oxy hòa tan. Kết quả, các quá trình phân hủy chuyển sang điều kiện yếm khí à sinh khí H2S, NH3 à tôm dễ bị stress. Do đó, cần phải hạ nhiệt độ nước nhanh trong những ngày nắng nóng ở các ao nuôi.

Quá trình chết của thực vật nguyên sinh thường trải qua 4 giai đoạn: (1) cường độ màu nước tăng lên. Cường độ màu đồng nhất trong suốt cột nước. Điều này xảy ra khi một vài loài thực vật nguyên sinh chiếm ưu thế và bắt đầu sinh sản nhanh. (2) các cụm màu xuất hiện trên bề mặt ao. Điều này xảy ra khi một số loại thực vật nguyên sinh chưa bị phá vỡ. (3) các đốm màu trắng sữa xuất hiện trong cột nước, nước trở nên nhầy, có lớp váng và bọt trên bề mặt khi vận hành các máy quay nước. Điều này xảy ra khi vách tế bào thực vật nguyên sinh bị phá vỡ, các cơ chất và sắc tố bên trong tế bào thoát ra bên ngoài và thực vật nguyên sinh sẽ bị mất sắc tố. (4) nước trong suốt và độ trong tăng lên đáng kể. Thực vật nguyên sinh chết sẽ lơ lửng trong nước và rồi sẽ chìm xuống đáy.

Sự thay đổi màu nước ở giai đoạn đầu có thể được quan sát qua sự lột vỏ bất thường của tôm hay khi lượng tiêu thụ thức ăn của tôm giảm đột ngột. Điều này do sự tích tụ chất dinh dưỡng từ nguồn thức ăn không sử dụng hết à hàm lượng chất hữu cơ tăng gây ra sự thừa mứa dinh dưỡng trong ao nuôi, từ đó gây nên sự phát triển quá mức của thực vật nguyên sinh à sự dư thừa oxy từ quá trình quang hợp ở thời điểm buổi chiều. Khi nước ao nuôi trở nên quá bão hòa với oxy, tôm có thể bị bệnh bọt khí, có thể nhận biết khi tôm nổi trên mặt nước đồng thời phần mang có rất nhiều bọt khí. Ngược lại trong những ngày tối trời hoặc buổi chiều tối khi thực vật nguyên sinh chuyển từ dạng sản xuất sang tiêu thụ oxy, hệ thống nước ao nuôi sẽ bị thiếu oxy. Do đó, tình trạng nở hoa của thực vật nguyên sinh trong ao ở mức độ nặng dẫn đến sự dao động lớn về giá trị pH, nồng độ oxy hòa tan trong một ngày.

Thành phần và mật độ của các loài thực vật phù du có thể điều khiển bằng cách điều chỉnh độ mặn. Độ mặn thấp giúp cho sự phát triển của của cộng đồng tảo xanh. Độ mặn tăng thích hợp cho cộng đồng tảo cát. Thành phần các loài cũng thay đổi bằng cách chuyển thực vật nguyên sinh từ các trại ương nuôi thực vật nguyên sinh. Ngoài ra cũng có thể thay đổi thành phần bằng cách thay đổi pH, bổ sung thêm vôi sống và dolomite.

2.3. Các kiểu màu nước của ao nuôi trồng thủy sản

a. Màu nâu vàng hoặc nâu đỏ

Kiểu màu nước này do sự phát triển ở mật độ cao của tảo cát. Kiểu này thường xảy ra khi nhiệt độ nước thấp và trong nước mặn có hàm lượng hữu cơ cao. Độ trong khoảng từ 25 – 35 cm.

Sự nở hoa của tảo cát gây ra màu nước này. Các loài tảo này như Chaetoceros,       Navicula, Nirzschia, Skeleronema, Cyclotella, Synedia, Achnanthes, Amphora  Euglena thường được tìm thấy trong những ao có màu này, đặc biệt là 3 loại đầu tiên. Loại màu nước này rất khó để đạt được.

Tảo cát rất giàu dinh dưỡng và dễ tiêu hóa. Màu nâu vàng của ao nuôi thường báo hiệu cho một mùa vụ tôm khỏe mạnh với màu cơ thể sáng và là dấu hiệu cho một mùa bội thu.



Hình 1: Tảo cát quan sát dưới kính hiển vi
Th.S Phạm Minh Nhựt
Bộ môn Công nghệ Sinh học
Trường đại học Công nghệ tp Hồ Chí Minh
( Vui lòng nhập Tiếng Việt có dấu )
0
© Copyright 2013 . All rights reserved
Design by Vitda.
CÔNG TY TNHH SITTO VIỆT NAM
Số 4 đường 3A, KCN Biên Hòa 2, Đồng Nai.
Điện thoại: (84-8) 6 2960736 - 6 2960737
Hotline: 08 22297399