Probiotic Buffet
CHẾ PHẨM VI SINH VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC SỬ DỤNG CHẾ PHẨM VI SINH TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
0
7108
: 21/02/2014
1. Chế phẩm vi sinh là gì?
Chế phẩm vi sinh là sự bổ sung các chất có chứa vi sinh vật sống có lợi đối với vật nuôi bằng cách biến đổi hệ vi sinh vật xung quanh hoặc liên quan đến vật chủ, bằng cách nâng cao khả năng sử dụng thức ăn hay nâng cao giá trị dinh dưỡng của thức ăn, nâng cao đáp ứng của vật nuôi đối với mầm bệnh hay cải thiện chất lượng môi trường xung quanh thông qua quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong nước nhanh hơn.
2. Lợi ích của chế phẩm vi sinh
a. Cạnh tranh vị trí trên đường ruột
Một trong những cơ chế ngăn chặn vi khuẩn gây bệnh là sự cạnh tranh vị trí gắn kết trên ruột của chế phẩm vi sinh (Verschuere et al, 2000; Gullian et al, 2003; Tinh et al, 2007). Với sự hiện diện của chế phẩm vi sinh với số lượng lớn trong đường ruột của động vật thủy sản sẽ chống lại sự xâm nhiễm của các vi khuẩn gây bệnh (Tinh et al, 2007)
b.  Sản xuất ra các chất ức chế
      Một số chủng vi sinh vật có lợi trong chế phẩm vi sinh có khả năng tổng hợp các chất ức chế ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh. Chính sự hiện diện của các vi khuẩn có khả năng sản xuất ra các chất ức chế trong ruột của vật chủ tạo nên một hàng rào bảo vệ chống lại các bệnh cơ hội (Verschuere et al, 2000; Tinh et al, 2007).
      Các yếu tố ức chế được các vi sinh có lợi sản xuất ra bao gồm: kháng sinh, bacteriocin, hydroperoxide (vi khuẩn Lactobacillus sp.), lysozyme, protease (Bacillus sp.) và tạo ra các acid hữu cơ thay đổi giá trị pH của đường ruột (Verschuere et al, 2000)
c. Cạnh tranh các nguồn năng lượng
Cạnh tranh các nguồn năng lượng đóng vai trò quan trọng trong hệ vi sinh vật trong ruột hoặc trong môi trường nước nuôi thủy sản (Tinh et al, 2007). Sự cạnh tranh diễn ra giữa vi sinh vật có lợi và các vi khuẩn gây bệnh chủ yếu là sự cạnh tranh các ion sắt vì hầu như tất cả các vi sinh vật đều cần sắt để phát triển (Verschuere et al, 2000). Khi sử dụng chế phẩm vi sinh ở mật độ cao, chúng sẽ thu nhận nguồn năng lượng trong môi trường, đặc biệt là sắt làm hạn chế nguồn năng lượng của vi khuẩn gây bệnh nên ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh. Hiệu quả của các vi sinh vật có lợi này làm tăng tính kháng Vibrio đã được kiểm chứng trên ấu trùng cá bơn (Verschuere et al, 2000).
d. Tăng cường sự hấp thu dinh dưỡng
      Hệ vi sinh vật đường ruột đóng vai trò rất quan trọng đối với khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của vật chủ. Do đó, để tăng cường khả năng hấp thu chất dinh dưỡng ở vật chủ đòi hỏi hệ vi sinh vật đường ruột phải hoạt động tích cực. Trong một số nghiên cứu về tác dụng tăng cường hấp thu chất dinh dưỡng của vi sinh vật có lợi trong ruột của vật chủ, nấm chế phẩm nâng cao sự ổn định của hệ vi sinh vật đường ruột vì chúng hoạt động như một nhà sản xuất polyamine (Tinh et al, 2007). Theo công trình nghiên cứu của Tovar-Ramirez (2002), khi cho ấu trùng cá chẽm ăn khẩn phần có bổ sung Saccharomyces cerevisiaeDebaryomyces hansenii thì tỷ lệ tăng trưởng và sống sót cao hơn đối chứng vì theo tác giả do các tế bào nấm chế phẩm kích thích sự tiết các enzyme tiêu hóa nên tăng cường khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của ấu trùng cá chẽm (Tinh et al, 2007)
e. Nâng cao đáp ứng miễn dịch
      Sự kích thích miễn dịch là một phương pháp hữu hiệu để cảnh báo để tăng cường hệ thống phòng vệ của vật chủ chống lại các vi khuẩn gây bệnh. Các hợp chất ở vi khuẩn có tác dụng kích thích miễn dịch như b-glucan có ở tế bào nấm chế phẩm; lipopolysaccharide và peptidoglican có vách tế bào vi khuẩn. Các hợp chất này từ chế phẩm vi sinh được nghiên cứu là rất hữu dụng trong việc chống lại Vibrio spp. và bệnh đốm trắng (Gullian et al, 2004)
f. Nâng cao chất lượng nước ao nuôi

Các chế phẩm chế phẩm vi sinh cũng có tác dụng cải thiện môi trường nước ao nuôi trồng thủy sản (Verchuere et al., 2000; Sahu et al., 2008). Trong nhiều nghiên cứu, chất lượng môi trường nước ao nuôi được cải thiện khi bổ sung probiotic, đặc biệt là sự bổ sung chế phẩm có chứa các chủng Bacillus sp. vì Bacillus là vi khuẩn gram dương rất hiệu quả trong việc biến đổi các chất hữu cơ thành CO2 so với vi khuẩn gram âm (Verschuere et al., 2000). Hơn nữa, các chế phẩm chế phẩm vi sinh cũng có khả năng tạo nên sự cân bằng giữa NH3/NO2/NO3 trong nước với sự hiện diện của các vi khuẩn nitrate hóa như Nitrosomonas sp. và Nitrobacter sp.. Trong điều kiện môi trường nước ao nuôi có nồng độ NH3 cao, Nitrosomonas sp. sẽ chuyển đổi NH3 thành NO2, sau đó Nitrobacter sp. sẽ chuyển đổi NO2 thành NO3, là một hợp chất không gây độc cho vật nuôi (Sahu et al., 2008). Các chủng vi khuẩn nitrate hóa sẽ tiết ra polymer cho phép chúng gắn kết trên bề mặt và hình thành nên biofilm. Và chính biofilm này đã làm giảm đến 50% tỷ lệ ammonia và nitrite trong môi trường ao nuôi (Sahu et al., 2008). Ngoài các vi khuẩn nitrate hóa, các chủng vi khuẩn phân hủy sulfur, methane cũng có tác dụng cải thiện môi trường nước ao nuôi trồng thủy sản (Sahu et al., 2008).
ThS. Phạm Minh Nhựt
Giảng viên bộ môn Công Nghệ Sinh Học

Trường Đại học Công nghệ tp. HCM

 

 
 
( Vui lòng nhập Tiếng Việt có dấu )
0
© Copyright 2013 . All rights reserved
Design by Vitda.





CÔNG TY TNHH SITTO VIỆT NAM        

Số 4 đường 3A, KCN Biên Hòa 2, Đồng Nai.
Điện thoại: (+84-028) 629.60.736 - 37
Hotline: (+84-028) 222.97.399
Email: sittovietnam@gmail.com
Người đại diện: Ông Theerapong Ritmak
Giấy chứng nhận đầu tư số: 472023000476, cấp ngày 4/4/2001
(chứng nhận thay đổi lần thứ năm ngày 30/6/2015)
do Ban Quản lý Các KCN Đồng Nai cấp.